Ngày mới đến huyện Hòa, suốt một khoảng thời gian dài Giản Hạnh không có lấy một giấc ngủ ngon.
Cô ngủ chung giường hai mét hai với Giản Như và Lữ Thành, còn bà ngoại thì đành chấp nhận chiếc giường một mét hai bên cạnh.
Để tiện dậy sớm đi rửa mặt, mỗi ngày Giản Hạnh đều phải ngủ ở mép ngoài giường.
Ngôi nhà này là thuê, Giản Như đã bỏ tiền ra, nhưng Giản Hạnh vẫn cảm thấy đây là nhà của người khác.
Cô luôn thận trọng, cả người cứng ngắc, trong đầu như có một sợi dây cứ căng mãi không ngừng, ngày càng siết chặt.
Từ quê chuyển đến huyện Hòa, ngoài tiền ra, Giản Như chẳng có gì cả, thế nên Giản Hạnh chỉ có thể học ở trường tư đắt đỏ.
Ngôi trường này cũng lạ, lại nằm ngay đối diện Tam Trung, chỉ cách một con đường.
Mấy học sinh ở Tam Trung hay gây sự, đánh nhau, giáo viên không quản được, chỉ cần có tiền thì trường tư đều nhận hết.
Vừa mới đến đã tiêu một khoản lớn, Giản Như không yên lòng, bắt đầu lao vào tìm việc, cuối cùng chọn làm hàng ăn vặt vì chi phí thấp.
Nhưng bà chưa bao giờ bán ở gần Tam Trung hay trường tư thục, mà thà chạy xa đến Nhị Trung, Nhất Trung hoặc Hòa Trung.
Thời gian trôi qua, Giản Hạnh có thể cảm nhận rõ ràng rằng có một ý thức nào đó trong cơ thể mình đang dần tê liệt.
Mãi đến sau này, khi Giản Như tiết kiệm đủ tiền mua lại sân nhà của chủ nhà, thứ ý thức mà cô không rõ đó rốt cuộc là gì mới dần dần biến mất chẳng ai hay.
Một năm sau, Giản Hạnh lên cấp hai.
Có lẽ để tránh những rắc rối không cần thiết, trường tư thục cho phép học sinh học liên thông từ tiểu học lên cấp hai, không cần lo vấn đề hộ khẩu, chỉ cần tiếp tục đóng học phí là có thể học trong môi trường quen thuộc.
Cấp hai, Giản Hạnh vẫn học ở trường tư, mỗi ngày chỉ có thể dựa vào tiến độ của sách giáo khoa để chứng minh rằng cuộc sống không hoàn toàn lặp lại.
Ngày đầu năm mới 2007, cũng là thứ Hai, huyện Hòa đón trận tuyết đầu tiên của mùa đông năm ấy.
Tuyết đến muộn màng, lại vội vã, đến mức khi tất cả mọi người mở mắt ra, cảnh tượng cả thành phố chìm trong sắc trắng bạc khiến ai nấy đều sững sờ.
Đường phố đột nhiên đông đúc hơn hẳn vì phụ huynh đưa con đến trường.
Nhà của Giản Hạnh nằm ngay trong con hẻm cạnh trường, đi bộ chưa đến năm phút, đương nhiên không cần Giản Như đưa đi, huống hồ Giản Như đã ra ngoài từ sớm.
Giản Hạnh quàng trên cổ chiếc khăn len mới bà ngoại đan cho, vừa đi vừa hà hơi liên tục.
Hơi thở ấm áp làm sợi len ướt đi, châm chích vào da mặt khiến cô hơi khó chịu.
Cô đang định kéo khăn ra thì một chiếc xe hơi màu đen đột ngột dừng lại bên lề đường cạnh cô.
Một người phụ nữ trẻ bước xuống xe.
Hai năm rồi không gặp, cô ấy dường như chẳng thay đổi chút nào, thậm chí còn trông trẻ trung hơn trước.
Cô ấy khoác một chiếc áo dạ màu hồng, không cài cúc, để lộ chiếc váy ngắn màu be nhạt bên trong và đôi bốt lông trắng muốt.
Cô ấy thật xinh đẹp.
Thì ra cô ấy cũng sống ở Huyện Hòa.
Nghe có vẻ như họ thuộc cùng một thế giới, nhưng chỉ cần nhìn thoáng qua, ai cũng có thể nhận ra sự khác biệt rõ ràng giữa hai người.
Dù gì thì, quần áo của Giản Như lúc nào cũng chỉ có ba màu đen, trắng, xám.
Còn Giản Hạnh, quanh năm suốt tháng chỉ mặc đồng phục.
Cô đứng sững tại chỗ, đôi mắt mở to, chăm chú nhìn người phụ nữ ấy không chớp.
Rất nhanh sau đó, cửa sau của chiếc xe cũng mở ra, một nam sinh bước xuống.
Nhìn cậu không rõ bao nhiêu tuổi, nhưng vóc dáng thì cao hơn Giản Hạnh rất nhiều.
Trên người cậu mặc đồng phục của Tam Trung, tay cầm một hộp sữa bò, đang nhét vào túi áo.
"Đến trường đừng quên uống đấy nhé."
Người phụ nữ trẻ dặn dò.
"Con biết rồi, mẹ mau về đi, trời lạnh thế này."
Nam sinh nói, đồng thời cúi xuống cài hai chiếc cúc áo dạ cho người phụ nữ trẻ.
Người phụ nữ bật cười, khẽ đánh cậu một cái: "Ôi trời, con phiền quá đi."
"Học từ bố đấy."
Cậu nhún vai, vẫy tay, "Con đi đây ạ."
Nói rồi, cậu băng qua con đường dài để sang bên kia.
Không xa có một nam sinh mặc cùng bộ đồng phục chạy tới, khoác vai cậu rất tự nhiên.
Chỉ trong chưa đầy nửa phút ngắn ngủi, Giản Hạnh thấy có rất nhiều người chào hỏi cậu.
Đúng lúc đó, điện thoại của người phụ nữ trẻ vang lên.
Cô nghe máy, giọng điềm nhiên: "Biết rồi, đang đưa con trai anh đi học đây."
Vừa nói, cô vừa bước lên xe.
Chiếc xe nhanh chóng biến mất khỏi tầm mắt.
Lúc này, lớp tuyết trên mặt đất đã tan đi một nửa, không còn là một mảng trắng xóa như ban đầu.
Nhưng ngay khoảnh khắc đó, tầm nhìn của Giản Hạnh bỗng trở nên mơ hồ.
Cô nhìn chằm chằm vào làn khói xe, chóp mũi đột nhiên ngửi thấy một mùi nồng nặc của bụi đất.
Lẫn trong đó còn có mùi tanh nồng của máu.
Dù là trận tuyết trong trẻo đến đâu cũng không thể che giấu mùi máu ấy.
Hơi máu kích thích cái đầu vốn đã không mấy tỉnh táo vào buổi sáng sớm, khiến một góc nào đó trong thần kinh bị đè nén như đang cố giãy giụa để bùng phát.
Và rồi, cái hộp mà cô từng nghĩ rằng đã bị chôn vùi suốt hai năm dài bỗng nhiên rung lên dữ dội.
Gió lạnh quét qua, chỉ một cái lướt nhẹ cũng đủ thổi bay lớp bụi dày đặc phủ trên nó.
Dù đã phủ đầy bụi, khoảnh khắc ấy, nó vẫn trông như mới.
Nó chưa từng biến mất, thậm chí vì bị bỏ quên quá lâu mà trong khoảnh khắc này, nó bùng phát như thể muốn báo thù, mọc ra những móng vuốt và rễ cây méo mó.
Những rễ cây ấy cắm sâu vào tim Giản Hạnh.
Mỗi nhịp tim đều khiến cô đau đớn toàn thân, như thể đang nhắc nhở cô:
Kẻ ác không bao giờ có kết cục tốt, kẻ trộm cũng chẳng bao giờ được thấy ánh sáng.
“Vì vậy, tôi khuyên các em sau này viết văn nên nghĩ nhiều hơn về cuộc sống của chính mình.
Cuộc sống của người khác mãi mãi là của người khác.”
Câu nói của cô giáo Ngữ văn vừa dứt, tiếng chuông tan học vang lên.
Tiếng chuông lọt vào tai, gần như xuyên thủng màng nhĩ.
Giản Hạnh giật mình, cô run rẩy kéo khăn quàng để che mặt như năm ấy cô đã từng, nhưng trong nháy mắt lại nhận ra hôm nay mình không hề đeo khăn.
Cô không còn thứ gì để che đậy sự nhục nhã này nữa.
Giản Hạnh đột nhiên cảm thấy ngực nghẹn lại, cổ họng tắc nghẹn, mắt cay xè.
Cô giáo Ngữ văn vừa rời lớp, cô lập tức đứng dậy.
Động tác có phần đột ngột, khiến người bên cạnh chú ý.
Cô không còn sức để kiểm soát biểu cảm, cũng không chào hỏi Hứa Lộ, vội vã chen ra ngoài.
Hứa Lộ bất mãn kéo ghế về phía trước một chút, chân ghế cọ sát mặt đất phát ra âm thanh chói tai.
Giản Hạnh chỉ cảm thấy hơi thở như bị bóp nghẹt.
Giọng nói của Hứa Lộ đầy vẻ bất mãn: “Cậu đi ra cũng phải nói một tiếng chứ!
Suýt nữa làm tôi vấp ghế!”
Thực ra Giản Hạnh không nghe rõ Hứa Lộ nói gì.
Cô cúi mắt, khàn giọng nói một câu “Xin lỗi” rồi vội vã rời khỏi lớp.
Giờ nghỉ giữa tiết chỉ có mười phút, nơi duy nhất có thể đến là nhà vệ sinh.
Giản Hạnh run rẩy vặn mở vòi nước.
Dòng nước mùa đông như chảy ra từ hầm băng, tràn qua da thịt, lạnh đến mức như muốn tước đoạt đi lớp cảm giác cuối cùng.
Cô nhìn làn da mình từng chút một đỏ lên vì lạnh, nhưng trong lòng lại chẳng cảm nhận được chút giá rét nào.
Những kẻ sống lâu trong vực sâu và đầm lầy vốn không biết sợ lạnh.
Ngược lại, họ có thể hấp thụ cái lạnh đó, dùng nó để xây nên lớp vỏ ngày càng dày.
Nhưng người cô thích lại đang đứng dưới ánh sáng, phải làm sao đây?
Cô chỉ mới bước gần một bước, mà trên người đã bị ánh sáng ấy thiêu rụi thành vô số lỗ hổng.
Những móng vuốt méo mó và rễ cây vặn vẹo vốn không thể lộ ra dưới ánh sáng.
Để tránh những tia sáng đó, chúng chỉ có thể quấn lấy nhau, chồng chéo lên nhau, khiến bản thân ngày càng trở nên méo mó và dữ tợn hơn.
Trong lòng không có ánh sáng, thì dù một cọng cây ngọn cỏ cũng sẽ úa tàn.
Một khi lớp vỏ giả tạo bị xé rách, sự xấu xí bên trong chỉ có thể bày ra một cách trần trụi.
Cô không có đường lui.
Nghĩ đến đây, Giản Hạnh bỗng không kiềm chế được, phát ra nức nở nghẹn ngào.
Cô cố gắng nuốt ngược tất cả những yếu đuối này vào, nhưng lại phản tác dụng, những tiếng nức nở cứ vang lên không ngừng.
Tiếng động không nhỏ vang lên khiến người khác chú ý, có cô bạn đứng bên cạnh lo lắng hỏi: “Bạn ơi, bạn không sao chứ?”
Giản Hạnh vừa giơ tay ra hiệu không sao, vừa co giật dữ dội hơn.
Những cơn co giật này giống như sự phản kháng cuối cùng của Giản Hạnh.
Cô cố gắng dùng cách giết địch một ngàn, tự tổn tám trăm để nhổ bật tất cả những thứ đó từ gốc rễ.
Nước mắt sinh lý trào ra không ngừng, trong làn sương mù, cô ôm bụng nghĩ: Nếu như ngay cả gốc rễ cũng bị nhổ sạch, vậy cô còn có thể sống tiếp không?
Sau giờ lịch sử, vừa thấy Từ Trường Lâm bước ra khỏi lớp, Lâm Hữu Lạc đã hét lên một tiếng: “Khốn thật!
Nghe tiết lịch sử này xong tôi thật sự không muốn sống nữa!”
Đề sử lần này ra hơi khó, đối với người như Lâm Hữu Lạc—thi trung khảo còn không qua nổi—thì chắc cũng không khác gì đánh đố cả.
Giờ nghỉ dài giữa buổi kéo dài nửa tiếng, Giản Hạnh vốn định hỏi xem cậu ấy có chỗ nào không hiểu, nhưng cảm giác mệt mỏi quá nặng nề, chỉ có thể gục xuống bàn ngủ.
Ai ngờ vừa mới gục xuống, Hứa Lộ bên cạnh lại chọc chọc tay cô hỏi:
“Giản Hạnh, cậu làm được câu này chưa?”
Cô ngẩng đầu nhìn một cái, ậm ừ một tiếng, rồi đẩy bài kiểm tra qua:
“Cậu tự xem đi.”
Hứa Lộ dừng lại, nhìn cô vài giây, không biết vì sao sắc mặt trầm xuống hẳn, giọng điệu có chút cứng nhắc:
“Cậu không thể giảng cho tôi một chút à?”
“Tôi…”
Giản Hạnh còn chưa kịp nói hết câu, đã thấy Hứa Lộ quay đầu đi, bài kiểm tra cũng không nhận, lạnh nhạt bỏ lại một câu:
“Không muốn giảng thì thôi!”
Cô há miệng, nhưng cuối cùng chẳng nói gì, chỉ lặng lẽ rút lại bài kiểm tra, tiếp tục gục xuống.
Cả ngày cứ thế trôi qua trong trạng thái mơ mơ màng màng.
Không biết có phải do vừa phát bài kiểm tra hay không, mà hôm nay trong lớp đặc biệt yên ắng, thỉnh thoảng có người nhắc đến Từ Chính Thanh, đổi lại là vài tiếng cảm thán đầy hàm ý.
Buổi tự học tối, Hứa Lộ không gọi cô đi ăn, mà Giản Hạnh cũng không muốn ăn.
Cô một mình đi ra sân thể dục, không đi dạo, chỉ tìm một góc rồi ngồi xuống.
Nhìn ra xa, ai cũng giống nhau.
Hòa Trung có quy định, trong thời gian ở trường, mọi người đều phải mặc đồng phục.
Một bộ đồng phục có thể dễ dàng gom tất cả mọi người vào cùng một thế giới.
Những khác biệt về gia thế, giáo dưỡng, tầm nhìn, thậm chí là ngoại hình rõ ràng nhất, cùng với nhiều khoảng cách khác, thường phải đến khi trưởng thành và độc lập mới dần lộ rõ.
Nỗi khổ của người trưởng thành không phải là thứ mà những kẻ còn ở trong tháp ngà có thể tưởng tượng nổi.
Thế nên, hoài niệm thanh xuân trở thành một loại "chương trình đặc biệt" của một số người trưởng thành.
Bởi vì với họ mà nói, học tập chăm chỉ trên ghế nhà trường là chuyện nhẹ nhàng nhất trong đời.
Ít nhất, chuyện này có thể đổi lấy kết quả bằng sự nỗ lực.
Còn những thứ khác thì sao?
Giản Hạnh nghĩ vậy, lặng lẽ cúi đầu.
Cô duỗi chân, nửa thân trên cúi thấp, trên bậc thềm bên cạnh, lá rụng đã úa vàng, còn dính lại dấu vết ẩm ướt do tuyết tan.
Cô đưa tay chạm vào, hơi lạnh từ đầu ngón tay len lỏi vào tim.
“Chính Thanh, bắt bóng này!”
Một giọng nói vang lên, phản xạ có điều kiện khiến Giản Hạnh ngẩng đầu, lúc này mới thấy trong đám người đang chơi bóng rổ kia lại có cả Từ Chính Thanh.
Từ Chính Thanh cũng mặc đồng phục, lúc này bầu trời được ánh hoàng hôn nhuộm thành một màu cam đỏ.
Sân bóng rổ có nền xanh, đường chạy nhựa màu đỏ, đồng phục lại là màu xanh lam—thiếu niên đứng đó rực rỡ giữa những gam màu.
Cậu đáp một tiếng, nhẹ nhàng nhảy lên bắt lấy quả bóng từ xa ném đến, hai tay nâng nhẹ, đầu ngón tay lướt qua không trung, bóng rổ xoay tròn rồi chuẩn xác rơi vào rổ.
Tiếng vỗ tay lác đác vang lên, kèm theo tiếng hò reo từ đồng đội: “Đỉnh đấy!”
Từ Chính Thanh khẽ cười, gió đông thổi tung mái tóc cậu, lộ ra gương mặt có phần điển trai.
Cậu không nói gì, chỉ giơ tay búng một ngón tay giữa không trung.
Phong thái của thiếu niên há lại là thứ một ngày đông ngắn ngủi có thể che giấu được?
Giản Hạnh nhìn thêm vài giây, chậm rãi đứng dậy rời khỏi sân bóng.
Từ Chính Thanh chơi thêm một lát thì thấy nóng, nói với đồng đội một tiếng rồi cầm áo khoác đồng phục đi đến cạnh cột bóng rổ.
Lúc cúi người đặt áo xuống, cậu vô thức ngẩng đầu nhìn về phía cổng vào, thấy một bóng dáng nữ sinh thoáng qua, đôi mắt cậu hơi nheo lại, vài giây sau mới thu hồi ánh nhìn.
Lúc này, Tần Gia Minh lững thững đi tới, đưa cho cậu một chai nước, rồi cười nói: "Nghe nói thi đứng nhất khối, chúc mừng."
Từ Chính Thanh nhận lấy nước, cũng không khách sáo, chỉ trêu lại: "Chúc mừng suông thế thôi à?"
"Đù má?"
Tần Gia Minh bật cười, chửi thề một câu, "Được, tí nữa để anh Bân đích thân phục vụ."
Từ Chính Thanh cầm chai nước cụng nhẹ vào chai nước của Tần Gia Minh: "Cảm ơn đàn anh."
"Cậu bớt làm điệu đi được không?"
Tần Gia Minh bật cười, trước khi quay về lớp thì sực nhớ ra điều gì, bèn quay lại dặn: "À đúng rồi, tôi kêu anh Bân mua thêm một ly, tí nữa cậu mang cho Giản Hạnh nhé."
Từ Chính Thanh gật đầu đồng ý.
Mặt sân bóng vẫn còn nước đọng, không thích hợp để vận động lâu.
Cậu chỉ giãn gân cốt đơn giản rồi cầm áo khoác rời đi.
Lúc đến cổng tòa nhà dạy học thì tình cờ gặp Bàng Bân.
Người kia không nói gì nhiều, trực tiếp nhét ly trà sữa trong tay vào tay cậu.
Từ Chính Thanh nhướng mày: "Không phải bảo là phục vụ tận nơi à?"
"Thế này chẳng phải là cậu tự đưa xác đến tận cửa sao?"
Bàng Bân cười đáp rồi nhanh chóng rời đi.
Từ Chính Thanh bật cười hai tiếng, bước lên lầu.
Tần Gia Minh mua khá nhiều, Từ Chính Thanh thấy nặng nên trên đường đi gặp người quen liền tiện tay đưa bớt mấy ly.
Đến lúc đứng trước cửa lớp Ba, trên tay cậu chỉ còn lại vài ly.
Lâm Hữu Lạc mắt tinh, vừa thấy liền bám lấy cửa sổ gọi: "Anh ơi!
Còn phần em không?"
Từ Chính Thanh thấy bộ dạng sốt sắng đó, không nhịn được trêu chọc: "Ở trong đó sống ổn không đấy?"
Lâm Hữu Lạc phối hợp vô cùng nhuần nhuyễn, mặt đầy khổ sở đáp: "Đương nhiên là không rồi!
Ngày nào em cũng nhớ anh, cơm cũng nuốt không trôi, lại còn bị lão Từ chèn ép!"
"Tội nghiệp."
Từ Chính Thanh nói, đưa hai ly trà sữa vào trong.
"Thưởng cho mày đấy."
Lâm Hữu Lạc cười hì hì nhận lấy: "Yêu em đến thế cơ à, còn cho tận hai ly."
Từ Chính Thanh quét mắt nhìn chỗ ngồi trống của Giản Hạnh, thản nhiên nói: "Một ly cho Giản Hạnh."
"Hả?"
Lâm Hữu Lạc ngớ ra, đợi đến khi Từ Chính Thanh quay người rời đi mới chậm chạp lên tiếng: "Ồ."
Cậu ta lẩm bẩm đầy nghi hoặc: "Từ bao giờ Giản Hạnh lại thân với Từ Chính Thanh thế?"
Không ngờ Hứa Lộ lại tiếp lời: "Bọn họ vốn dĩ đã quen nhau rồi."
"Hả?
Vốn dĩ?
Quen từ bao giờ?"
Lâm Hữu Lạc hỏi.
Hứa Lộ nhìn lướt qua bàn của Giản Hạnh, không chút biểu cảm nói: "Không biết.
Dù sao thì cô ấy cũng quen nhiều... nam sinh lắm, cả khối Mười một cũng có."
Lâm Hữu Lạc bán tín bán nghi: "Thật không?"
Hứa Lộ tỏ ra khó chịu: "Ý gì đây?
Cậu không tin tớ à?
Cậu thân với cô ta hay tớ thân với cô ta?
Thật sự nghĩ cô ta đơn giản như vẻ ngoài sao?"
Lâm Hữu Lạc ngơ ngác: "Hả?
Ý...
Ý cậu là sao?"
Hứa Lộ khựng lại, mãi sau mới nhận ra mình vừa lỡ lời.
Sắc mặt cô ấy thoáng thay đổi, ngập ngừng một lúc lâu rồi vội vã quăng lại một câu: "Liên quan gì đến cậu, bớt tò mò đi."
"…Không phải cậu nhắc đến trước sao?"
Lâm Hữu Lạc ấm ức lẩm bẩm một câu, sau đó đứng dậy đặt ly trà sữa lên bàn của Giản Hạnh.
Cả ngày hôm nay Giản Hạnh hầu như không ăn uống gì tử tế, đến tối dạ dày bắt đầu phản kháng, cơn đau âm ỉ dần dần trở nên dữ dội.
Cô cố chịu một lúc nhưng cuối cùng không nhịn nổi nữa, đành đi xuống căn-tin nhỏ mua một ổ bánh mì.
Trên đường quay về lớp, cô chọn đi cầu thang bên kia tòa nhà, vừa bước lên đến tầng sáu liền chạm mặt Từ Chính Thanh đang trở về lớp.
Từ Chính Thanh nhìn thoáng qua ổ bánh mì trong tay cô, thuận miệng hỏi: "Chưa ăn cơm à?"
Lúc lên cầu thang, Giản Hạnh đã nghĩ rằng nếu chọn đường này thì thế nào cũng phải đi ngang qua lớp một, không biết có thể tình cờ gặp Từ Chính Thanh không.
Nhưng lúc này thật sự chạm mặt cậu, cô lại cứng lưỡi, không nói nổi một câu trọn vẹn.
Hồi lâu chỉ đáp được một tiếng: “Ừ.”
Từ Chính Thanh không biết nhìn cô lâu như vậy để làm gì, nhưng cũng không hỏi thêm, chỉ thản nhiên nói: "Tần Gia Minh mua trà sữa cho cậu, tôi đưa cho Lâm Hữu Lạc rồi."
"Ồ."
Giản Hạnh chậm một nhịp phản ứng, sau đó thắc mắc: "Sao tự nhiên lại mua trà sữa?"
Từ Chính Thanh cười nhẹ, nói: "Coi như ăn mừng thi xong đi."
"Ồ, cảm ơn."
Cậu gật đầu rồi quay người định vào lớp.
Giản Hạnh siết chặt ổ bánh mì trong tay, không biết lấy đâu ra can đảm, bỗng nhiên gọi một tiếng:
"Từ Chính Thanh."
Cậu dừng bước, ngoảnh đầu lại.
Do vô thức siết chặt, bao bì ổ bánh mì trong tay cô xẹp xuống, bàn tay mềm mại chạm vào lớp vỏ bánh.
Giản Hạnh hơi kéo khóe môi, nở một nụ cười nhẹ, nói: "Nghe nói cậu thi rất tốt, chúc mừng nhé."
Từ Chính Thanh nhướn mày: "Nghe nói cậu cũng làm bài không tệ, thầy Từ còn khen cách giải bài lịch sử của cậu với lớp tôi đấy."
Giản Hạnh hơi lắp bắp: "Thật… thật à?"
"Ừ, thi cuối kỳ cũng cố lên nhé."
Cô mỉm cười: "Được, cậu cũng vậy."
Nói xong, cả hai quay người đi về lớp.
Hành lang vắng vẻ giữa trời đông, gió lùa qua lạnh buốt, nhưng Giản Hạnh không thấy lạnh chút nào.
Về đến chỗ ngồi, cô thấy trên bàn có một ly trà sữa.
Lâm Hữu Lạc nhìn cô, rồi chậm rãi lên tiếng: "Cái đó, là Từ Chính Thanh đưa."
"Tôi biết."
Giản Hạnh cầm lấy ly trà sữa, lòng bàn tay truyền đến hơi ấm dịu dàng.
Không biết có phải do kỳ thi giữa kỳ đã kiểm chứng kết quả học tập hay không, mà suốt một khoảng thời gian dài sau đó, mọi người đều không còn thoải mái như nửa học kỳ trước nữa.
Lớp học năm cuối trở nên trầm lặng hơn vì áp lực và tiến độ bài vở.
Hành lang cũng không còn cảnh tụ tập chuyện trò do thời tiết lạnh, hầu hết mọi người đều ở trong lớp, lật giở từng trang đề bài.
Trước đây, khi ngồi gần cửa sổ, Giản Hạnh thỉnh thoảng lại thấy bóng dáng của Từ Chính Thanh lướt qua.
Dù không có duyên phận gì, nhưng cùng ở tầng một, ít ra cũng có vài lần tình cờ chạm mặt.
Vậy mà đã hơn một tháng trôi qua, trong một tiết học làm văn, cô đột nhiên nhận ra rằng, hình như đã rất lâu rồi cô không gặp Từ Chính Thanh.
Thì ra, dù học cùng trường, cùng tầng, nhưng để có một lần tình cờ gặp mặt cũng cần đến sự may mắn.
Huống chi là sau khi tốt nghiệp.
Nghĩ vậy, Giản Hạnh khẽ nhẩm trong lòng mức điểm chuẩn của Đại học Hàng không Vũ trụ.
Cuối tháng Mười Hai, ngày Đông chí mang đến một trận tuyết lớn.
Bà ngoại của cô bị đau khớp, cứ đến mùa đông là bệnh tái phát, bước đi không còn nhanh nhẹn như xuân hè.
Trước đây, bà hay sang phòng cô loanh quanh, nhưng giờ chỉ có thể ngồi yên trong phòng xem tivi.
Giản Như biết vào mùa đông, bà ngoại ít di chuyển, nên năm nào khi đông về cũng sẽ chuyển chiếc tivi duy nhất trong nhà sang phòng bà.
Cuối tuần trời lạnh, ăn cơm xong, bà ngoại kéo Giản Hạnh vào phòng mình xem tivi.
Nhà không lắp truyền hình cáp, nên chỉ bắt được vài kênh, cứ xem đi xem lại mấy chương trình quen thuộc.
"Xem Hoàn Châu Cách Cách đi, Tiểu Yến Tử thú vị lắm."
Bà ngoại kéo tay Giản Hạnh nhét vào trong chăn, bắt cô ngồi ở mép giường.
Giản Hạnh cười nói: "Con không lạnh đâu ạ."
"Sao mà không lạnh được, không ai là không lạnh cả."
Bà vừa nói vừa định đứng dậy.
"Bà đi lấy cho con túi chườm nóng."
"Không cần đâu ạ," Giản Hạnh ngăn bà lại.
"Thật sự không cần, nếu lạnh con tự biết chui vào chăn mà."
"Vậy được, con từ nhỏ sức khỏe đã không tốt, bây giờ lại đang học cấp ba, đừng có mà hành hạ bản thân."
"Con biết rồi."
Hai bà cháu vừa trò chuyện, trên tivi đang chiếu đến cảnh hoàng thượng vi hành, tình cờ gặp Hạ Doanh Doanh, lúc chia tay, chiếc tivi cũ kỹ phát ra giọng ca thâm trầm, như vừa luyến tiếc vừa bi ai:
"Núi một chặng, sông một chặng, ngoài liễu lầu cao hồn đứt đoạn...
Núi không chốn tựa, sông không bến dừng, cỏ biếc rậm rạp tiễn biệt khách..."
Người thương khó gặp, núi sông khó trùng phùng.
Nếu đã có duyên gặp gỡ, xin đừng hỏi mai sau.
Bà ngoại khẽ thở dài: "Chà, nhà tướng hầu quyền quý nào phải cứ muốn vào là vào được đâu."
Giản Hạnh mỉm cười nói: "Đúng vậy, hơn nữa hoàng thượng cũng không thực sự thích cô ấy, chắc chỉ là rung động thoáng qua mà thôi."
Bà ngoại nghe vậy, biểu cảm có chút kỳ lạ.
Bà liếc nhìn Giản Hạnh một cái, cô giả vờ như không để ý.
Một lát sau, bà lại nhìn cô lần nữa.
Giản Hạnh nghĩ chắc bà ngạc nhiên vì quan điểm của mình, không nhịn được bật cười: "Bà ơi, con lớn rồi mà, mấy bộ phim này con hiểu được chứ."
Không biết vì sao, Giản Hạnh bỗng bắt gặp một chút căng thẳng thoáng qua trên gương mặt bà.
Cô khó hiểu hỏi: "Sao vậy ạ?"
"Không có gì, đúng là lớn rồi, nên hiểu rồi."
Bà nói vậy, nhưng đôi tay lại run rẩy rõ rệt.
Giản Hạnh nhíu mày, cầm điều khiển vặn nhỏ âm lượng tivi.
Bình thường để bà nghe rõ, cô luôn để âm thanh khá lớn, giờ giảm xuống, căn phòng lập tức trở nên yên tĩnh hơn hẳn.
Cô bóc một viên kẹo đặt vào tay bà, lại hỏi: "Có chuyện gì thế ạ?"
Lần đầu tiên, bà ngoại nhận kẹo nhưng không lập tức bỏ vào miệng.
Ngược lại, bà nhìn chằm chằm Giản Hạnh, chần chừ rồi hỏi:
"Giản Hạnh, bà hỏi con…
Ở trường các con có cái đó…
Ừm, con cũng lớn rồi, bà cũng hiểu…
Đến tuổi dậy thì rồi…
Con trai con gái trong trường cũng bắt đầu biết suy nghĩ…
Ý bà là… con có… cái đó…"
Bà ấp úng mãi, vẫn không thể nói ra trọn vẹn một câu.
Giản Hạnh biết bà muốn hỏi gì, liền chủ động nói: "Không có, không ai thích con cả."
"Bọn họ đúng là không có mắt!"
Bà ngoại có vẻ không hài lòng, nói xong lại nhìn cô lần nữa, hỏi: "Thế con có thích cậu trai nào không?"
Động tác vo tròn vỏ kẹo của Giản Hạnh khựng lại.
Dù chỉ là một cử động rất nhỏ, nhưng tiếng ma sát của vỏ kẹo lại vô tình khiến sự dừng lại ấy trở nên rõ ràng hơn.
Bà ngoại như nhận ra điều gì, nắm tay cô chặt hơn một chút.
Giản Hạnh nghĩ bà chỉ đơn thuần lo lắng, nhanh chóng cười nhẹ nói: "Học cấp ba bận rộn thế này, làm gì có thời gian để nghĩ đến mấy chuyện đó chứ."
Nghe như đang phủ nhận, nhưng lại không hề nói "không có".
Bà ngoại nửa tin nửa ngờ, "Ồ" một tiếng, sau đó dặn dò: "Giản Hạnh, con không thể học theo người khác yêu sớm được, biết không?
Con là người phải học hành chăm chỉ, phải thi đại học."
Giản Hạnh miễn cưỡng mỉm cười: "Con biết rồi ạ."
Rời khỏi phòng bà, phía sau tivi vẫn vang lên giai điệu da diết đầy luyến tiếc.
Cô đứng ở cửa, nhìn lớp tuyết mỏng ngoài sân mà ngẩn người.
Cô có chút bất ngờ.
Cô cứ ngỡ, dù thế nào đi nữa, bà ngoại cũng sẽ đứng về phía cô.
Cô nghĩ rằng, bà sẽ không giống Giản Như.
Ít nhất, bà không phải là người chỉ một mực muốn cô thi đỗ đại học, coi đó như cách để bù đắp cho cuộc đời đầy tiếc nuối của Giản Như.
"Meo~"
Chú mèo hoang quen thuộc giẫm lên nền tuyết để lại những dấu chân hình hoa mai, đến tìm đồ ăn.
Hình ảnh Từ Chính Thanh cúi đầu trêu mèo thoáng hiện lên trong tâm trí Giản Hạnh.
Cô mím môi cười nhẹ, nói: "Đợi một chút nhé."
Nói rồi, cô bước vào bếp.
Thực ra trong bếp chẳng có gì phù hợp cho mèo ăn, cô lục tìm một lúc mới thấy quả trứng luộc sáng nay chưa ăn, bóc vỏ rồi bẻ nhỏ cả lòng trắng lẫn lòng đỏ cho nó.
Chú mèo ăn xong, ung dung rời đi.
Giản Hạnh nhìn theo cái đuôi vểnh cao của nó, khóe môi cũng bất giác cong lên.
Lúc này, trong nhà chính dường như có tiếng động.
Cô nghiêng đầu nhìn sang, thấp thoáng thấy bóng dáng bà ngoại.
Ngạc nhiên, cô nhìn về phía phòng bà, đúng là cửa đang khép hờ.
Cô đứng dậy đi ra nhà chính, liền thấy bà ngoại cầm ba nén hương trong tay, chắp lên trán, mắt nhắm lại, lẩm bẩm cầu nguyện.
Giản Hạnh tò mò hỏi: "Bà ngoại?
Bà đang làm gì thế?"
Bà giật mình, sau đó như chợt nhớ ra gì đó, vội nói: "Giản Hạnh, lại đây, dâng hương đi con."
"Bây giờ ạ?"
Giản Hạnh ngạc nhiên, "Không phải Tết cũng chẳng phải ngày rằm, sao lại dâng hương ạ?"
"Chậc, con nít sao lại không biết điều thế, nói linh tinh gì vậy!"
Bà ngoại nói rồi nhét ba nén hương vào tay cô, "Chỉ cần muốn thắp, ngày nào cũng được."
Người già đều tin vào những điều này, có lẽ vì chẳng còn gì để bấu víu, chỉ có thể dựa vào đó để tìm chút bình an trong lòng.
Thấy bà nghiêm túc như vậy, Giản Hạnh vội nói: "Dạ, con thắp."
Từ khi có ký ức, cô đã cùng Giản Như và bà ngoại thờ cúng Quan Âm, nên mọi nghi thức đều rất thuần thục.
Bên tai vang lên tiếng bà ngoại lặp đi lặp lại: "Cầu cho Giản Hạnh mạnh khỏe, bình an...
Cầu cho Giản Hạnh mạnh khỏe, bình an..."
Giọng của người già luôn có một loại ma lực ru ngủ, cũng có sức mạnh lắng đọng lòng người, như thể có thể đưa con người vượt qua năm tháng dài đằng đẵng, cuối cùng vẫn có thể mỉm cười nhìn đời.
Ban đầu, Giản Hạnh chỉ muốn làm qua loa cho có, nhưng dần dần, cô lại thật sự tĩnh tâm.
Mùi hương trầm phảng phất nơi chóp mũi, tâm trí cô chậm rãi trôi dạt đến hình bóng của Từ Chính Thanh.
Trong lòng cô lén thay từng tiếng "Giản Hạnh" trong lời khấn của bà thành "Từ Chính Thanh".
Cầu cho cậu bình an, mạnh khỏe.
Cầu cho cậu mãi mãi tuổi thanh xuân.